Trao đổi sử học

Trao đổi sử học

Trao đổi sử học (NXB Văn học – 2021) là tập hợp bài viết của các tác giả trên Văn Nghệ TP.HCM trong cuộc đối thoại với các nhà sử học ở Hội Khoa học lịch sử Việt Nam về các sự kiện sử học từ Hội thảo về Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn… (Thanh Hóa – 2008) đến Hội nghị thông báo thành tựu nghiên cứu sử học (Hà Nội – 2017). Hai cuộc Hội nghị cách nhau 9 năm trời nhưng rất thống nhất về tư tưởng, chủ đề. Nếu ở Hội thảo 2008 nêu lên cái nhìn đột phá về Nhà Nguyễn, tôn vinh công trạng thống nhất đất nước và xây dựng quốc gia của Nguyễn Ánh – Gia Long và Triều Nguyễn thì ở Hội nghị 2017 nâng lên thành lý luận sử học: Quan điểm Toàn diện toàn bộ. Cần phải viết lại lịch sử theo phương pháp lãnh thổ hiện tại của Trung Quốc (Phan Huy Lê), v.v… để “lấp những khoảng trống nguy hiểm” trong sử học như lịch sử đồng bằng sông Cửu Long, CCRĐ hay các “thực thể chính trị” như Việt Nam Cộng hòa hay Quốc gia Việt Nam…

Cần chú ý là ở cả hai Hội nghị trên người chủ trì đều là GS. Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội KHLSVN. Vì thế, để hiểu cuộc đối thoại sử học khá lâu dài, từ 2008 đến 2017 và sau đó nữa, cần phải tìm hiểu thực chất sử học Phan Huy Lê. Chúng tôi sẽ nói rõ vấn đề này sau khi tóm tắt công trình Trao đổi sử học để bạn đọc tiện theo dõi.

Các tác giả trên Văn Nghệ TP.HCM như các nhà văn Vũ Hạnh, GS. Trần Thanh Đạm – Nguyên Hiệu trưởng Đại học Sư phạm TP.HCM, nhà báo lão thành Đặng Minh Phương, nhà văn Chu Giang và nhiều tác giả khác, họ không phải là những nhà sử học chuyên nghiệp nhưng rất quan tâm đến sử học. Sự quan tâm này, trước hết là tình cảm và lý trí của những người trong cuộc như nhà văn Vũ Hạnh, 5 lần bị Ngụy quyền bắt giam. Ban đầu Ngô Đình Diệm đưa ông vào danh sách thủ tiêu bí mật. Một cơ sở của Cách mạng biết được thông tin, báo ngay cho Vũ Hạnh. Nhà văn Vũ Hạnh lập tức bí mật rời khỏi Sài Gòn. Khi tình hình có thể, ông lại trở về hoạt động. Khi ông chuẩn bị ra vùng giải phóng nhận chức trách Bộ trưởng Văn hóa trong Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thì bị Ngụy quyền bắt giam. Nhà báo lão thành Đặng Minh Phương (sinh năm 1927) từng là bí thư chi bộ ở Nhà máy điện Nha Trang trước 1945. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông từng là Tổng biên tập báo Quân Giải phóng Trung Trung bộ. Sau 1975, ông làm trưởng đại diện báo Nhân Dân ở khu vực miền Trung, có trụ sở ở Đà Nẵng, cho đến ngày nghỉ hưu. Các tác giả khác như Cao Đức Trường, Hoàng Phương – nguyên là cựu tù Côn Đảo. Hoàng Phủ Ngọc Phan từng hoạt động trong phong trào học sinh – sinh viên trước 1975. Tác giả Nguyễn Văn Thịnh người Hà Nội gốc, bác sĩ Quân y – hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh – đã vào chiến trường miền Nam từ 1965. Lý Châu Hoàn đã hoạt động ở Sài Gòn ngay từ 1945, sau này là Trưởng Văn phòng đại diện Bộ Văn hóa tại TP.HCM, v.v…

Những con người đó, nếu đòi hỏi về bằng cấp hàm vị chuyên ngành sử học thì họ không có. Nhưng thực tiễn cuộc sống mà họ đã trải qua, tri thức cuộc sống mà họ trải nghiệm và kết tinh được thì Chủ tịch Hội KHLS, GS. Phan Huy Lê không thể so bì được. Họ đã viết như thế nào về các chủ đề đối thoại với Hội KHLSVN?

Nội dung chính trong Trao đổi sử học là sự phản biện về vai trò của Gia Long – Triều Nguyễn, của Quốc gia Việt Nam và Bảo Đại cùng một số nhân vật lịch sử như Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký… Phía Hội KHLSVN mà đại diện là GS. Phan Huy Lê thì hết sức tôn vinh. Còn phía Trao đổi sử học thì ngược lại. Vấn đề là sự biện luận có lý đến đâu? Có đứng vững được không?

Về Gia Long và Triều Nguyễn thì biện luận của GS. Trần Thanh Đạm là rõ ràng, có cơ sở, thuyết phục. Ông không phủ nhận toàn bộ Vương triều Nguyễn nhưng vạch rõ công và tội của họ. Sự nghiệp của Gia Long không thể chỉ có “điểm mờ”, “tỳ vết” mà là tội phản quốc, phản bội dân tộc. Chính là GS. Phan Huy Lê đã khẳng định điều này, chúng tôi sẽ nói sau. Cần khẳng định là Nguyễn Huệ đã hai lần cứu nguy cho dân tộc. Nếu Nguyễn Huệ thất bại trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút thì chắc chắn quân Xiêm sẽ xâm chiếm cả miền Nam và Nguyễn Ánh trở thành thứ bù nhìn. Nếu Tôn Sĩ Nghị đại thắng ở Thăng Long thì chắc chắn Nhà Thanh sẽ xâm chiếm nửa nước phía Bắc và Lê Chiêu Thống cũng là thứ bù nhìn. Rồi sẽ có chiến tranh giữa quân Thanh và quân Xiêm. Dù bên nào thắng thì đất nước cũng mất vào tay giặc. Không những Nguyễn Huệ đã cứu nguy cho dân tộc mà còn tạo tiền đề, cơ hội cho Nguyễn Ánh sau này bình định được toàn cõi. Gia Long thần phục Nhà Thanh giam hãm đất nước trong vòng “bế quan tỏa cảng” làm cho dân tộc suy yếu, đi đến mất nước. Tự Đức chỉ là hậu quả của Triều đại Gia Long. Nhìn lại, Nhà Nguyễn trong 60 năm tự chủ (1802-1862) thì thực thi chế độ chính trị lạc hậu, bảo thủ, phản động mà hậu quả là Triều Tự Đức như đã nói trên. Từ 1862 đến 1884 – Hiệp định Patơnốt, Nhà Nguyễn chấp nhận sự Bảo hộ của nước Pháp, trên danh nghĩa là Bảo hộ, trên thực tế là nô lệ, là mất nước. Đó là tóm tắt phần Vương triều Nguyễn.

Đến Quốc gia Việt Nam và Bảo Đại thì Hội KHLS đã cố tình lẩn tránh sự thực lịch sử rất khách quan – Quốc gia Việt Nam là một chính thể bù nhìn do thực dân Pháp dựng lên. Bảo Đại là một kẻ phản bội Tổ quốc đã bị Tòa án Quân sự Liên khu IV kết án tử hình. Hiệp ước Elisée chỉ là tờ giấy lộn. Nhân cách của “Quốc trưởng” Bảo Đại càng bộc lộ rõ trò hề lừa bịp của thực dân Pháp và bản thân “Quốc trưởng”. Nhớ lại xem ông ta nói gì trong Chiếu thoái vị, hãy xem công dân Vĩnh Thụy chấp nhận làm cố vấn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, chấp nhận tham gia Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nếu xem xét “toàn bộ toàn diện” thì Quốc gia Việt Nam là một đối tượng phải phê phán, phải lên án, nếu người ta thừa nhận Cách mạng Tháng Tám 1945, Quốc hội của nước Việt Nam độc lập – thống nhất năm 1946 và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội bầu ra năm 1946 là chính phủ hợp pháp hợp hiến.

Như đã nói, muốn hiểu thực chất hoạt động sử học từ Hội thảo Thanh Hóa (2008) đến Hội nghị Thông báo thành tựu sử học (2017) phải hiểu thực chất sử học Phan Huy Lê. Cố GS. Hà Văn Tấn, một trong bộ tứ sử học Lâm – Lê – Tấn – Vượng nói đại ý muốn làm sử học phải biết phương pháp của sử học, nhưng trước hết phải là người trung thực chứ không phải là một kẻ dối trá… Đáng tiếc, thực chất sử học Phan Huy Lê là ngược lại với tuyên ngôn của GS. Hà Văn Tấn. Xin dẫn mấy ví dụ:

– Đánh giá về Nguyễn Ánh – Gia Long trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút:

Trước đây nghiên cứu về phong trào Tây Sơn, GS. Phan Huy Lê viết:

“Thất bại liên tiếp trước những đòn tiến công dồn dập của quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã đi vào con đường phản bội dân tộc, cầu cứu và dẫn đường cho quân Xiêm sang xâm chiếm đất Gia Định”

(Lịch sử và văn hóa Việt Nam tiếp cận bộ phận. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 2015. Tái bản lần thứ tư)
Tại Hội thảo Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn – Thanh Hóa – 2008, trong tổng kết Hội thảo, GS. Phan Huy Lê cho rằng cầu viện nước ngoài là chuyện bình thường và hành động của Nguyễn Ánh chỉ là một điểm mờ, một tỳ vết trong sự nghiệp của ông ta.

Như thế, GS. Phan Huy Lê đã chuyển hóa Nguyễn Ánh từ “phản bội dân tộc” thành một “điểm mờ”, một “tỳ vết”. Ai cũng biết, điểm mờ, tỳ vết thì dễ khắc phục. Còn “phản bội dân tộc” là một bản án.

Phương pháp sử học của Phan Huy Lê, thì bài “Đâu là sự thật trong phương pháp luận sử học đổi mới”, ông Nguyễn Việt Quốc đã viết đầy đủ và sâu sắc nhất, xem Hội thảo Sử học ở Thanh Hóa, là một sự lừa dối khổng lồ (Trg.262, Sđd.).

Theo GS. Trần Quốc Vượng thì GS. Phan Huy Lê là “con quan lớn” (Thượng thư Nam triều), “em Ngụy lớn” (Phan Huy Quát) nên ông biết “ẩn nhẫn chờ thời”. Trong thực tế ông biết lựa thời lựa thế. Các Hội thảo do ông chủ xướng, chủ trì rất ít tính khách quan. Ông cố tạo ra “sân nhà cho Hội thảo”. Như Hội thảo về Phan Thanh Giản thì tổ chức ở Bến Tre, quê Phan Thanh Giản. Hội thảo về Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn thì tổ chức ở Thanh Hóa – quê hương các Chúa Nguyễn. Mời cho được Nguyên TBT Lê Khả Phiêu tới dự. Hội nghị Thông báo thành tựu sử học (2017) thì mượn Hội trường Ban Tuyên giáo, mời Trưởng ban Tuyên giáo tham dự. Còn đại biểu dự Hội thảo là do người chủ trì Hội thảo mời. Điều đó hẳn ai cũng biết. Vì thế, từ Đề dẫn đến Tổng kết Hội nghị Hội thảo theo hướng nào, ai cũng biết.

Giáo sư Phạm Hồng Tung cho rằng các tác giả trên Văn Nghệ TP.HCM là “… không có cùng một nền tảng kiến thức, lại khác xa nhau về phương pháp tiếp cận, nên làm sao có thể cùng nhau đi đến ngọn nguồn của vấn đề… nên chúng tôi dừng cuộc tranh luận ở đây” (Mấy vấn đề sử học Việt Nam cần làm sáng tỏ. Hội KHLSVN – NXB Hồng Đức. 2018. Trg.190).

Thưa Phạm Giáo sư, ông nói như thế với nhà văn Vũ Hạnh, với GS. Trần Thanh Đạm, với nhà báo lão thành Đặng Minh Phương… thì e rằng ông chỉ biết cái chùm nho ấy còn xanh chứ không phải nó đã chín nhưng cao quá… Và ông sẽ không bao giờ hiểu được câu “Dân ta phải biết sử ta”!

Trường Xuân, Tuần báo Văn nghệ tp. Hồ Chí Minh

Trịnh Hoài Nam

Trịnh Hoài Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error

Enjoy this blog? Please spread the word :)